Văn hóa
Bài chòi ngày Tết
Bài chòi, loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo của cư dân miền Trung, không chỉ là trò chơi ngày Tết mà còn là kết tinh của lịch sử mở cõi, của đời sống lao động và tâm hồn người Việt trên dải đất đầy nắng gió. Trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển, từ những chòi rẫy giữa hoang sơn đến sân đình làng quê, bài chòi đã bám rễ sâu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trở thành “món ăn tinh thần” không thể thiếu mỗi độ xuân về. Bằng lối hát hô mộc mạc, hóm hỉnh, giàu tính tương tác và đầy tính giáo dục, bài chòi không chỉ mang lại tiếng cười mà còn phản ánh sinh động nếp nghĩ, nếp sống, cách ứng xử tinh tế của người xưa.
Thật khó để xác định một cách chắc chắn rằng bài chòi có từ bao giờ và bắt nguồn từ đâu? Chỉ biết rằng, loại hình nghệ thuật dân gian này đã có mặt cùng với những dấu chân của các bậc tiền nhân đi mở cõi từ hàng trăm năm trước. Cả một dải đất dọc dài các tỉnh Trung và Nam Trung bộ, trong đó có Quảng Ngãi trở thành “đất lành” để bài chòi cắm rễ và sinh sôi.
Có giả thiết cho rằng, lúc mới tiếp quản vùng đất này, những lưu dân khai khẩn đất hoang đã nghĩ ra cách “giải sầu” bằng việc sáng tác ra những câu ca để “giao lưu” với nhau. Dần dần, những câu ca có vần có điệu ấy đã tìm bến đỗ ở các chòi rẫy, vừa để xua thú dữ, vừa để đối đáp với nhau trong lúc nghỉ ngơi.
Việc hát đối đáp nhau bằng những câu ca có vần có vè dần trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong cộng đồng dân cư. Thế rồi, từ các chòi rẫy, bài chòi đã bước vào các “chiếu làng” trong các dịp lễ, tết. Những dịch chuyển từ các chòi canh để tìm bến đỗ ở các sân đình làng, bài chòi đã tiến một bước dài và ăn sâu vào tiềm thức của người dân ở các làng quê.
Sân đình làng ngày xưa không chỉ là nơi các bô lão bàn chuyện việc làng việc nước mà còn là nơi tổ chức tế lễ và vui chơi trong mỗi dịp Tết đến. Bài chòi đã chen chân vào các cuộc vui này rồi bám rễ ở đấy trong nhiều thế kỷ qua. Khác với các loại hình nghệ thuật khác như tuồng, quan họ… người thưởng lãm một cách thụ động nhưng với bài chòi thì cả “diễn viên” lẫn người chơi cùng tham gia. Tính hấp dẫn của bài chòi không chỉ là đến sân để được nghe anh hiệu hát những câu thai mới vừa hài hước hóm hỉnh lại vừa mang tính giáo dục cao mà còn được tham gia “đánh bài” trong sự hồi hộp suốt cuộc vui. Vừa có ăn, có thua nhưng đánh bài chòi lấy vui làm chính chứ không phải sát phạt. Giải thưởng chỉ mang tính tượng trưng nhưng người chơi vô cùng hoan hỉ nếu được xướng tên.
Nhiều câu thai được các anh hiệu hô lên chẳng khác nào như trống giục. Hãy nghe lời “chiêu dụ” của anh hiệu hoặc của ban tổ chức bằng những câu sau đây để thấy rằng, bài chòi đã mê dụ biết chừng nào:
Ai mà đã đến đây rồi/ mau mau lãnh thẻ lên chòi phen-một-phen / vừa có đờn vừa có cốc-cốc-cốc-cheng / có hô có hát đờn kèn thổi tò te / miệng hút thuốc tay gõ mõ tai lắng nghe / ta vừa nhịp cằng vừa ngồi nghe bài chòi”. Một bức tranh vô cùng sinh động như bày ra trước mắt để mời gọi người tham gia cuộc chơi. Còn ngại ngần gì nữa mà không lãnh thẻ bài để leo lên chòi kia chứ! Hèn chi nhiều người mê bài chòi đến mức: “Rủ nhau đi đánh bài chòi / Để cho con khóc đến lòi rún ra!”.
Mỗi lần có hội bài chòi, không chỉ có nam thanh nữ tú đến sân đình để gặp nhau rồi hẹn hò mà còn có cả những bà mẹ trẻ nữa. Nhiều bà mẹ trẻ đã “quên” thiên chức của mình mà chỉ chăm chắm vào việc “đánh bài chòi”, dỏng tai lên nghe anh hiệu pha trò bằng những câu thai vô cùng hài hước và hấp dẫn. Dĩ nhiên, ai cũng hiểu đây là cách nói ngoa dụ để làm tăng thêm giá trị và sự hấp dẫn của bài chòi chứ có bà mẹ nào mà mê bài chòi đến mức phải quên con như thế.
Suốt mấy trăm năm qua, sân đình làng của người Việt miền Trung trở thành bến đỗ cho bài chòi. Tuy nhiên, bây giờ đình cũng đã vãn người, làng cũng không còn tên gọi nữa, bài chòi lại đi tìm bến đỗ mới.
Trong bài chòi, tính hấp dẫn lẫn hồi hộp được anh hiệu truyền cảm hứng tới người chơi và người nghe. Đây là những nghệ sĩ chân đất nhưng vô cùng hoạt náo và thông minh trong việc xử lý tình huống mỗi khi rút một thẻ bài. Những câu thai để “minh họa” cho thẻ bài vừa rút, nếu anh hiệu không nhanh trí xử lý sao cho nhuần nhuyễn thì rất dễ nhàm chán. Anh nói sao đó, anh đọc sao đó mà khán giả ồ lên và tưởng thưởng bằng những tràng pháo tay thì đó mới là thành công.
Chẳng hạn như bốc trúng thẻ bài con tứ cẳng mà trong “kho lưu trữ” của anh hiệu không có câu nào dính dáng đến chữ “tứ” hoặc chữ “cẳng” thì buộc anh ta phải “đi vòng” bằng một câu khác nhưng ý nghĩa thì không thay đổi: “Tối qua tui đi ra gò, thấy anh thương chị bốn cái giò tréo ngoe”. “Bốn cái giò” là “tứ cẳng” đó chứ đâu nữa! Người chơi không chỉ vỡ òa khi nghe anh hiệu gỡ bí bằng câu thai có chữ “bốn cái giò” mà còn cười tủm tỉm về cách diễn tả cảnh sex của người xưa thật ý tứ mà thâm sâu. Cùng cách diễn đạt như trên, câu thai sau đây hoàn toàn không có từ nào nói “tứ” hoặc “cẳng” nhưng khi anh hiệu xướng lên thì ai cũng biết đó là con tứ cẳng: “Một, hai bậu nói rằng không/Dấu chân ai đứng bờ sông hai người ?”. Bằng chứng rõ ràng là bốn dấu chân còn đây mà sao lại chối chứ!
Bài chòi vì thế không chỉ là cuộc chơi ngày Tết, càng không đơn thuần là một hình thức giải trí dân gian. Đó là ký ức văn hóa, là tiếng nói tâm hồn của bao thế hệ cư dân miền Trung gửi gắm vào từng câu thai, từng nhịp phách, từng tiếng cười rộn ràng nơi sân đình làng quê. Dẫu không gian sinh hoạt xưa đã dần đổi thay, đình làng thưa vắng, nhịp sống hiện đại cuốn con người đi nhanh hơn, nhưng bài chòi vẫn còn đó như một mạch nguồn văn hóa tồn tại lâu dài với thời gian.
Vấn đề đặt ra hôm nay không phải là bài chòi có còn hay không, mà là làm sao để bài chòi tiếp tục sống, tiếp tục được yêu, được sáng tạo và được trao truyền trong đời sống đương đại. Khi những câu thai mới vẫn được viết tiếp, khi anh hiệu vẫn còn đất diễn và người dân vẫn háo hức “lãnh thẻ lên chòi”, thì bài chòi sẽ chưa bao giờ mất. Bởi suy cho cùng, chừng nào con người còn cần tiếng cười, còn cần sự sẻ chia và còn muốn tìm về cội nguồn văn hóa của mình, chừng đó bài chòi vẫn sẽ còn tìm được bến đỗ trong lòng người.

Ý kiến ()